Chủ Nhật, 01/08/2021Mới nhất

Carlo Ancelotti

Carlo Ancelotti

Đội bóng hiện tại: Real Madrid

Tiểu sử Huấn luyện viên Carlo Ancelotti - HLV câu lạc bộ Everton

Carlo Ancelotti (sinh ngày 10 tháng 6 năm 1959 tại Reggiolo) hay biệt danh Carletto, là một cựu cầu thủ bóng đá người Ý và hiện là huấn luyện viên của câu lạc bộ Everton.

Thông tin trong bài viết sử dụng tư liệu từ wikipedia.


1. Tổng quan 


 

Thông tin cá nhân

Ngày sinh

10 tháng 6, 1959 (61 tuổi)

Nơi sinh

Reggiolo, Ý

Chiều cao

1,80 m (5 ft 11 in)

Vị trí

Tiền vệ

Thông tin về CLB

Đội hiện nay

Everton (huấn luyện viên)

Sự nghiệp cầu thủ trẻ

1973–1975

Reggiolo

1975–1976

Parma

Sự nghiệp cầu thủ chuyên nghiệp*

Năm

Đội

ST

(BT)

1976–1979

Parma

55

13

1979–1987

Roma

171

12

1987–1992

Milan

112

10

Tổng cộng

338

35

Đội tuyển quốc gia

1981–1991

Ý

26

1

Các đội đã huấn luyện

1995–1996

Reggiana

1996–1998

Parma

1999–2001

Juventus

2001–2009

Milan

2009–2011

Chelsea

2011–2013

Paris Saint-Germain

2013–2015

Real Madrid

2016–2017

Bayern München

2018–2019

Napoli

2019–

Everton

* Chỉ tính số trận và số bàn thắng ghi được ở giải vô địch quốc gia.

Khi còn là cầu thủ, Ancelotti thường thi đấu ở vị trí tiền vệ và ông đã cùng A.C. Milan giành hai chức vô địch Scudetto và hai chức vô địch UEFA Champions League trong vòng 5 năm. Ông được triệu tập vào đội tuyển Ý 26 lần, ghi được 1 bàn và từng có mặt tại World Cup 1986 và World Cup 1990. Ông được coi người đầu tiên của lịch sử bóng đá thi đấu ở vị trí tiền vệ tổ chức, một vị trí mà sau này trở thành chìa khóa của bóng đá hiện đại với những tên tuổi như Pep Guardiola, Demetrio Albertini, và Andrea Pirlo.

Trên cương vị huấn luyện, Ancelotti là một trong những HLV thành công nhất ở Châu Âu hiện nay. Ông giành tổng cộng 3 chiếc cup bạc UEFA Champions League và 2 FIFA Club World Cup với 2 đội bóng khác nhau. Ngoài ra, ông cũng giành chức vô địch giải quốc nội ở 4 quốc gia hàng đầu châu Âu (Ý, Anh, Pháp, Đức) khác nhau và rất nhiều chiếc cup Quốc gia, siêu cup,... ở các đội bóng mình đã từng dẫn dắt.

2. Sự nghiệp cầu thủ

 

2.1 Câu lạc bộ


Ancelotti bắt đầu sự nghiệp cầu thủ của mình vào năm 1974 với Parma. Năm 1979, ông chuyển đến A.S. Roma. Tại đây, ông đã giành được danh hiệu vô địch Serie A mùa bóng 1982–83 và 4 lần giành Coppa Italia.
 
Từ năm 1987 đến 1992, ông thi đấu cho A.C. Milan, và cùng Milan giành 2 cúp C1 châu Âu liên tiếp trong các mùa giải 1988–89 và 1989–90. Những đồng đội của ông trong giai đoạn này có rất nhiều hảo thủ như Paolo Maldini, Franco Baresi, Mauro Tassotti và Alessandro Costacurta ở hàng hậu vệ; Frank Rijkaard, Ruud Gullit, Roberto Donadoni ở hàng tiền vệ và tiền đạo Marco van Basten.
 
Trong trận bán kết lượt về cúp C1 châu Âu 1988–89 với Real Madrid, Ancelotti đã rê bóng qua 2 cầu thủ Real Madrid F.C. trước khi có cú sút xa ghi bàn mở tỉ số trong chiến thắng 5 – 0 của Milan. Kết thúc trận đấu Milan giành chiến thắng chung cuộc với tổng tỷ số 6 – 1 và qua đó giành quyền vào chơi trận đấu cuối cùng của mùa giải. Trong trận chung kết tại Camp Nou sau đó với Steaua Bucureşti, Ancelotti cũng đã thi đấu trọn vẹn 90 phút. Góp công giúp Rossoneri giành chức vô địch châu Âu lần thứ 3 trong lịch sử với một chiến thắng huỷ diệt 4 – 0. Ancelotti chính thức giải nghệ cầu thủ từ năm 1993, sau khi chơi 283 trận tại Serie A và ghi được 22 bàn thắng.
 

2.2 Đội tuyển quốc gia

 
Ancelotti có bàn thắng duy nhất cho đội tuyển Ý là trong trận hòa 1 – 1 với đội tuyển Hà Lan vào ngày 6 tháng 1 năm 1981 trong khuôn khổ giải Mundialito 1980 (một giải đấu nhỏ được tổ chức giữa những đội tuyển đã từng vô địch thế giới) diễn ra trên đất Uruguay. Sau đó, ông đã cùng đội tuyển Ý tham dự World Cup 1986 và World Cup 1990, cùng với Roberto Donadoni, Roberto Mancini và Paolo Maldini. Ancelotti đã có 26 lần khoác áo đội tuyển trước khi tuyên bố chia tay đội tuyển vào năm 1991.
 
 

3. Sự nghiệp huấn luyện

 


Ông là một trong 7 người từng vô địch Cúp C1 châu Âu/UEFA Champions League ở cả cương vị cầu thủ lẫn huấn luyện viên. Ông đã 05 lần vô địch Champions League trong đó hai lần khi còn thi đấu cho A.C. Milan (1989, 1990), hai lần khi dẫn dắt A.C. Milan (2003, 2007) và một lần khi dẫn dắt Real Madrid (2014).
 
Carlo Ancelotti bắt đầu sự nghiệp huấn luyện tại CLB nhỏ Reggiana, và ngay trong mùa bóng đầu tiên làm huấn luyện viên, ông đã giúp Reggiana thăng hạng Serie A. Sau đó ông chuyển sang Parma và giúp CLB về nhì trong cùng năm. Ancelotti chuyển sang Juventus để thay thế Marcello Lippi - người vừa có giai đoạn rất thành công. Tuy nhiên, ông đã không đáp ứng được sự kỳ vọng của ban lãnh đạo Bianconeri khi chỉ đưa Juventus về nhì tại Serie A trong hai mùa bóng liên tiếp.
 

3.1. Mùa giải 2001 – 2009: AC Milan

 

Carlo Ancelotti rời Juventus để sang làm việc tại AC Milan và mở ra tám năm huy hoàng. Trước khi đến Milan, Ancelotti trên cương vị huấn luyện vẫn chưa đoạt được danh hiệu lớn nào, nhưng trong tám năm tại sân San Siro ông đã đoạt hầu hết mọi chức vô địch ở cấp độ câu lạc bộ.

3.2. Mùa giải 2013 – 2015: Real Madrid

 
Ngày 25 tháng 6 năm 2013, Ancelotti trở thành HLV trưởng của Real với một bản hợp đồng có thời hạn 3 năm.
Ngày 24 tháng 5 năm 2014, sau chiến thắng đầy ấn tượng trước Atlético Madrid trong trận chung kết UEFA Champions League, Ancelotti đã giúp Real hoàn thành giấc mơ Decima với chức vô địch châu Âu lần thứ 10 sau 12 năm chờ đợi. Qua đó, đây cũng là chức vô địch châu Âu thứ ba của ông trên cương vị huấn luyện viên, cân bằng với thành tích của huyền thoại Bob Paisley trong giai đoạn 1977 – 1981.
 
Tiểu sử Huấn luyện viên Carlo Ancelotti - HLV câu lạc bộ Everton hình ảnh
Ancelotti với chiếc cúp bạc UEFA Champions League 2014 vừa giành được sau đêm chung kết tại Lisbon.


3.3. Mùa giải 2018 – 2019: Napoli

 

Ngày 23 tháng 5 năm 2018, Napoli đã công bố Ancelotti sẽ là người dẫn dắt câu lạc bộ từ mùa giải 2018–19 sau khi ông Maurizio Sarri đã chuyển sang dẫn dắt câu lạc bộ Chelsea. Ngày 19 tháng 8, ông có trận ra mắt Serie A trên cương vị HLV trưởng của Napoli bằng chiến thắng 2 – 1 trên sân Olimpico của S.S. Lazio. Ngày 3 tháng 9, ông nhận thất bại đầu tiên khi thua 3 – 0 trên sân của U.C. Sampdoria tại vòng 3 của Serie A.
 
Ngày 10 tháng 12 năm 2019, Ancelotti đã bị sa thải sau trận thắng 4–0 trên sân nhà trước Genk - trận đấu cuối cùng vòng bảng UEFA Champions League 2019–20 mà Napoli đã giành vé vào vòng knock-out với tư cách là đội nhì bảng E. Quyết định được đưa ra bởi chủ tịch Napoli, Aurelio De Laurentiis vào ngày 11 tháng 12.
 

3.4. Everton

Ngày 21 tháng 12 năm 2019, Ancelotti trở thành huấn luyện viên của Everton với hợp đồng có thời hạn 4,5 năm đến mùa hè 2024.
 

4. Thống kê sự nghiệp

 

4.1 Câu lạc bộ

 

Mùa

Câu lạc bộ

Hạng

League

Cup

Châu lục

Khác

Tổng

Trận

Bàn

Trận

Bàn

Trận

Bàn

Trận

Bàn

Trận

Bàn

 Ý

Giải VĐQG

Cúp Quốc gia

Châu Âu[n 1]

Khác[n 2]

Tổng

1976–77

Parma

Serie C

1

0

1

0

1977–78

21

8

21

9

1978–79

Serie C1

33

5

33

5

1979–80

Roma

Serie A

27

3

9

0

36

3

1980–81

29

2

6

2

2

1

37

5

1981–82

5

0

0

0

3

1

8

1

1982–83

23

2

3

0

6

0

32

2

1983–84

9

0

5

0

4

0

18

0

1984–85

22

3

2

0

3

0

27

3

1985–86

29

0

4

0

 

33

0

1986–87

27

2

7

1

2

0

36

3

1987–88

Milan

Serie A

27

2

7

0

4

0

38

2

1988–89

28

2

2

0

7

1

1

0

38

3

1989–90

24

3

4

0

6

0

1

0

35

3

1990–91

21

1

4

0

4

0

2

0

31

1

1991–92

12

2

6

0

18

2

Tổng

Parma

55

13

55

13

Roma

171

12

36

3

20

2

226

17

Milan

112

10

23

0

21

1

4

0

160

11

Tổng sự nghiệp

338

35

59

3

41

3

4

0

442

41


  1.  Bao gồm UEFA Cup Winners' Cup (1980–81, 1981–82, 1984–85 và 1986–87), UEFA Cup (1982–83 và 1987–88) và European Cup (1983–84, 1988–89, 1989–90 và 1990–91)
  2.  Bao gồm Siêu cúp bóng đá Ý (1988), Cúp Liên lục địa (1989) và Siêu cúp châu Âu 1990 (2 trận.)

4.2 Quốc tế


 Ý

Năm

Trận

Bàn

1981

4

1

1982

1983

4

0

1984

1985

1986

5

0

1987

3

0

1988

5

0

1989

0

0

1990

4

0

1991

1

0

Tổng

26

1

 

4.2.1 Bàn thắng quốc tế

 

STT

Ngày

Sân

Đối thủ

Tỷ số

Kết quả

Giải đấu

1

6 tháng 1 năm 1981

Sân Centenario, Montevideo, Uruguay

 Hà Lan

1 – 0

1 – 1

Mundialito 1980

 

4.3 Huấn luyện viên

Tính đến ngày 10 tháng 12 năm 2019

Đội bóng

Từ

Đến

Thành tích

ST

T

H

B

BT

BB

HS

% thắng

Reggiana

1 tháng 7 năm 1995

30 tháng 6 năm 1996

41

17

14

10

45

36

+9

41,46

Parma F.C.

1 tháng 7 năm 1996

30 tháng 6 năm 1998

87

42

27

18

124

85

+39

48,28

Juventus

9 tháng 2 năm 1999

17 tháng 6 năm 2001

114

63

33

18

185

101

+84

55,26

Milan

6 tháng 11 năm 2001

31 tháng 5 năm 2009

423

238

101

84

690

357

+333

56,26

Chelsea

1 tháng 7 năm 2009

22 tháng 5 năm 2011

109

67

20

22

241

94

+147

61,47

Paris St. Germain

30 tháng 12 năm 2011

25 tháng 6 năm 2013

77

49

19

9

153

64

+89

63,64

Real Madrid

25 tháng 6 năm 2013

25 tháng 5 năm 2015

119

89

14

16

323

103

+220

74,79

Bayern Munich

1 tháng 7 năm 2016

28 tháng 9 năm 2017

60

42

9

9

156

50

+106

70,00

Napoli

23 tháng 5 năm 2018

10 tháng 12 năm 2019

73

38

19

16

127

73

+54

52,05

Tổng cộng

1.103

645

256

202

2.044

963

+1081

58,48

 

5. Đời sống cá nhân

 

  • Ancelotti có hai con: một con gái là Katia (sinh ngày 18 tháng 4 năm 1984) và một con trai là Davide (sinh ngày 22 tháng 7 năm 1989). Davide cũng từng chơi trong đội trẻ Milan và sau đó gia nhập A.S.D.C. Borgomanero (một câu lạc bộ lúc đó đang chơi ở Serie D) vào tháng 6 năm 2008. Sau một thời gian thi đấu chuyên nghiệp không thành công, anh chuyển sang học ngành Khoa học thể thao, trước khi đảm nhận vai trò trợ lý HLV thể lực tại Real Madrid ở giai đoạn Carletto còn là HLV trưởng ở đội chủ sân Bernabeu (2013 – 2015). Tháng 8 năm 2016, Ancelotti đã bổ nhiệm cả Davide và con rể Mino Fulco vào đội ngũ trợ lý của mình ở Bayern.
  • Năm 2008, Carletto xác nhận trong một cuộc phỏng vấn rằng ông đã chia tay với người vợ 25 năm, Luisa Gibellini. Năm 2011, ông đã bắt đầu một mối quan hệ với nữ doanh nhân người Canada là Mariann Barrena McClay. Sau đó 2 người đã chính thức kết hôn tại Vancouver vào tháng 7 năm 2014.
  • Vào tháng 5 năm 2009, ông xuất bản một cuốn tự truyện dài 26 chương, dày 264 trang có tiêu đề là Preferisco la Coppa. Tất cả số tiền thu được từ việc bán cuốn sách được ông quyên góp cho Quỹ Stefano Borgonovo để tài trợ cho nghiên cứu về bệnh xơ cứng cột bên teo cơ (ALS), một căn bệnh hiếm gặp mà nhà vật lý Stephen Hawking cùng với cựu danh thủ Stefano Borgonovo đều mắc phải.
 

6. Thành tích

 

6.1 Cầu thủ

6.1.1 AS Roma

  • Serie A: 1983
  • Cúp bóng đá Ý: 1980, 1981, 1984, 1986

6.1.2 AC Milan

  • Cúp C1 châu Âu: 1989, 1990
  • Siêu cúp châu Âu: 1989, 1990
  • Serie A: 1988, 1992
  • Siêu cúp bóng đá Ý: 1988
  • Cúp bóng đá liên lục địa: 1989, 1990

6.1.3 Đội tuyển quốc gia Ý

  • Giải vô địch bóng đá thế giới: Huy chương đồng (1990)

6.2 Huấn luyện viên

6.2.1 Juventus

  • UEFA Intertoto Cup: 1999

 6.2.2 AC Milan

  • UEFA Champions League: 2003, 2007
  • Siêu cúp châu Âu (UEFA Super cup) : 2003, 2007
  • Giải vô địch thế giới các câu lạc bộ (FIFA Club World cup): 2007
  • Serie A: 2004
  • Cúp bóng đá Ý (Coppa Italia): 2003
  • Siêu cúp bóng đá Ý: 2004

6.2.3 Chelsea

  • Premier League: 2010
  • Cúp FA: 2010
  • Siêu cúp Anh: 2009

6.2.4 Paris Saint-Germain

  • Ligue 1: 2013

6.2.5 Real Madrid

  • UEFA Champions League: 2014
  • Siêu cúp châu Âu: 2014
  • Cúp Nhà vua Tây Ban Nha: 2014
  • Giải vô địch thế giứi các câu lạc bộ: 2014

6.2.6. Bayern München

  • Bundesliga: 2017
  • Siêu cúp bóng đá Đức: 2016, 2017

6.2.7 Danh hiệu cá nhân

  • Huấn luyện viên xuất sắc nhất Serie A: 2001, 2004
  • Huấn luyện viên xuất sắc nhất Ligue 1: 2013 (cùng với Christophe Galtier)
  • Huấn luyện viên xuất sắc nhất tháng Ngoại hạng Anh: tháng 11/2009; tháng 8/2010; tháng 3/2011; tháng 4/2011
  • Giải thưởng Enzo Bearzot: 2014
  • Giải thưởng Miguel Muñoz: 2014–15
  • Huấn luyện viên xuất sắc nhất châu Âu (giải thưởng Alf Ramsey): 2003
  • Huấn luyện viên xuất sắc nhất năm của Tạp chí World Soccer: 2003
  • Huấn luyện viên xuất sắc nhất năm của Tạp chí Globe Soccer: 2014
  • Huấn luyện viên câu lạc bộ xuất sắc nhất năm của IFFHS: 2007, 2014

6.3 Huân chương

  • Huân chương Công trạng Cộng hoà Italia (Order of Merit of the Italian Republic): hạng 5 (1991)
  • Huân chương Ngôi sao Italia (Order of the Star of Italy): hạng 5 (2014)
top-arrow
X