Thứ Bảy, 16/01/2021Mới nhất
Tây Ban Nha

Official Website: www.rfef.es

Chân dung Đội tuyển bóng đá quốc gia Tây Ban Nha

Đội tuyển bóng đá quốc gia Tây Ban Nha (tiếng Tây Ban Nha: Selección de fútbol de España) là đội tuyển của Liên đoàn bóng đá Hoàng gia Tây Ban Nha và đại diện cho Tây Ban Nha trên bình diện quốc tế chính thức kể từ năm 1920 bắt đầu bằng trận đấu với Đan Mạch. Tây Ban Nha còn có những biệt danh như La Roja ("Đội Quân Màu Đỏ"), La Furia Roja ("Cơn Thịnh Nộ Màu Đỏ"), La Furia Española ("Cơn Thịnh Nộ Của Tây Ban Nha") hay đơn giản là La Furia ("Cơn Thịnh Nộ").

1. Tổng quan 


Đội tuyển bóng đá quốc gia Tây Ban Nha

Biệt danh

La Furia Roja (Cơn thịnh nộ màu đỏ)

La Roja (Đội quân đỏ)

La Furia (Cơn thịnh nộ)

Hiệp hội

Liên đoàn bóng đá Hoàng gia Tây Ban Nha (RFEF)

Liên đoàn châu lục

UEFA (châu Âu)

HLV trưởng

Luis Enrique

Đội trưởng

Sergio Ramos

Thi đấu nhiều nhất

Sergio Ramos (168)

Ghi bàn nhiều nhất

David Villa (59)

Mã FIFA

ESP

Hạng FIFA

Hiện tại

8 Giữ nguyên (16/7/2020)

Cao nhất

1 (Tháng 7/2008 - Tháng 6/2009

Tháng 10/2009 – Tháng 3/2010

Tháng 7/2010 – Tháng 7/2011

Tháng 10/2011 – Tháng 7/2014)

Thấp nhất

25 (Tháng 3/1998)

Hạng Elo

Hiện tại

4 Giữ nguyên (1/8/2020)

Cao nhất

1 (Tháng 9/1920 - Tháng 5/1924

Tháng 9 – 12/1925

Tháng 6/2008 – Tháng 6/2009

Tháng 7/2010 – Tháng 6/2013)

Thấp nhất

19 (Tháng 6 – 10/1969

Tháng 11/1991)

Trận quốc tế đầu tiên

Tây Ban Nha 1–0 Đan Mạch 
(Bruxelles, Bỉ; 28/8/1920)

Trận thắng đậm nhất

Tây Ban Nha 13–0 Bulgaria 
(Madrid, Tây Ban Nha; 21/5/1933)

Trận thua đậm nhất

Ý 7–1 Tây Ban Nha 
(Amsterdam, Hà Lan; 4/6/1928)

Anh 7–1 Tây Ban Nha 
(Luân Đôn, Anh, 9/12/1931)

Giải thế giới

Sồ lần tham dự

15 (Lần đầu vào năm 1934)

Kết quả tốt nhất

Vô địch, 2010

Giải vô địch bóng đá châu Âu

Sồ lần tham dự

11 (Lần đầu vào năm 1964)

Kết quả tốt nhất

Vô địch, 1964, 2008, 2012

Cúp Liên đoàn các châu lục

Sồ lần tham dự

2 (Lần đầu vào năm 2009)

Kết quả tốt nhất

Á quân, 2013

Thành tích huy chương

Thành tích Huy chương Olympic

Bóng đá nam

Huy chương bạc – vị trí thứ hai

Antwerp 1920

Huy chương vàng – vị trí thứ nhất

Barcelona 1992

Huy chương bạc – vị trí thứ hai

Sydney 2000

Tây Ban Nha trở thành thành viên chính thức của FIFA vào năm 1904, nhưng Liên đoàn bóng đá Hoàng gia Tây Ban Nha lại được thành lập vào năm 1909. Tây Ban Nha đã tham dự 15 trên 21 lần tổ chức Giải vô địch bóng đá thế giới (liên tục kể từ năm 1978) và 10 trên 15 lần tổ chức Giải vô địch bóng đá châu Âu.

Tây Ban Nha là một trong những đội bóng hàng đầu thế giới, trở nên nổi bật hơn bao giờ hết với ba danh hiệu giành được ở World Cup 2010, Euro 2008 và 2012, viết nên trang sử độc nhất vô nhị đó là vô địch ba giải đấu lớn liên tiếp. Tây Ban Nha cũng giữ kỷ lục từng có số trận bất bại liên tiếp nhiều nhất thế giới với 35 trận kéo dài trong gần 3 năm và liên tục nhận giải thưởng "Đội bóng của năm" cả 6 năm hoàng kim từ 2008 đến 2013. 


2. Lịch sử

2.1 Những năm đầu

Đội tuyển bóng đá quốc gia Tây Ban Nha được thành lập vào năm 1920, đại diện cho Tây Ban Nha tham dự Thế vận hội Mùa hè tổ chức tại Bỉ trong năm đó.
Tây Ban Nha có trận đấu đầu tiên vào ngày 29 tháng 8 năm 1920 đấu với Đội tuyển Đan Mạch. Trận đấu kết thúc với chiến thắng 1–0 cho Tây Ban Nha. Ở trận đấu tiếp theo, Tây Ban Nha không thể giành chiến thắng khi để thua Bỉ 1–3.
Những cuộc nội chiến và Chiến tranh thế giới lần thứ hai làm Tây Ban Nha không thể chơi 1 trận đấu nào tại World Cup 1934 và World Cup 1950.

2.2 Euro 1964

Tây Ban Nha có danh hiệu đầu tiên khi đánh bại Hungary 2–1 để tiến tới chung kết đấu với Liên Xô. Tây Ban Nha tiếp tục giành chiến thắng 2–1 để có danh hiệu lớn đầu tiên sau 44 năm.

2.3 World Cup 1982

Năm 1976, Tây Ban Nha được chọn là chủ nhà của World Cup 1982, được kỳ vọng rất cao nhưng Tây Ban Nha chỉ vào được tới vòng 2.

2.4 Euro 1984

Cựu huấn luyện viên Real Madrid Miguel Muñoz, người đã dẫn dắt Tây Ban Nha trong năm 1969, trở lại và huấn luyện tuyển. Vòng loại Euro 1984 Tây Ban Nha nằm ở bảng 7 cùng với Hà Lan, Ireland, Iceland và Malta. Trong trận đấu cuối cùng, Tây Ban Nha cần thắng ít nhất trên 11 bàn để có thể vượt qua Hà Lan ở vị trí dẫn đầu. Sau khi dẫn 3–1. ở hiệp 1, hiệp 2 Tây Ban Nha ghi thêm 9 bàn thắng biến tỉ số thành 12–1, dẫn đầu nhóm để tới vòng chung kết. Tại vòng chung kết, Tây Ban Nha nằm ở bảng B cùng với Romania, Bồ Đào Nha và Tây Đức, sau hai trận hòa 1–1, Tây Ban Nha thắng 1–0 trước Tây Đức ở trận đấu cuối cùng để đứng đầu bảng B. Bán kết họ gặp Đan Mạch, hòa 1–1 và thắng 5–4 trên chấm penalty. Sau đó Tây Ban Nha đã bị Pháp đánh bại 2–0 ở chung kết và để tuột mất chức vô địch.

2.5 Euro 2000 và World Cup 2002

Sau khi thất bại ở trận đấu đầu tiên của vòng loại Euro 2000 (thua Síp 2-3), Liên đoàn bóng đá Hoàng gia Tây Ban Nha quyết định sa thải huấn luyện viên Javier Clemente, José Antonio Camacho lên thay. Tây Ban Nha thắng những trận còn lại của vòng bảng. Nhưng thất bại ở tứ kết khi để thua Pháp 2-1 và chấp nhận dừng bước.
Vòng loại World Cup 2002 diễn ra đúng như mong đợi,đứng đầu bảng đấu có rất nhiều đối thủ mạnh. Tại VCK World Cup, Tây Ban Nha đứng đầu bảng B với ba trận toàn thắng. Vòng tứ kết Tây Ban Nha đối đầu với Hàn Quốc và để thua trên chấm luân lưu.

2.6 Euro 2004

Euro 2004 diễn ra tại Bồ Đào Nha. Tây Ban Nha rơi vào bảng A với Bồ Đào Nha, Nga và Hy Lạp. Họ đánh bại Nga 1–0, hòa Hy Lạp 1–1 nhưng lại thất bại trước Bồ Đào Nha và không đủ điểm để vượt qua vòng bảng. Iñaki Sáez bị sa thải 1 tuần sau đó, Luis Aragones lên thay.

2.7 World Cup 2006, Thế hệ vàng 2007, Euro 2008

Tại World Cup 2006 tổ chức tại Đức, Tây Ban Nha lọt vào bảng H và xuất sắc thắng tất cả các trận đấu nhưng lại thất bại trước Pháp 1–3 tại vòng 2. Họ được an ủi bằng giải thưởng Fair-play cho Tây Ban Nha và Brazil.
Sau khi bị loại khỏi giải, Luis Aragonés nhận ra đội bóng không có đủ thể lực và tranh chấp không quyết liệt để gây khó khăn cho đối thủ, họ bắt đầu tập trung nghiên cứu Tiki-Taka, chiến thuật sử dụng các đường chuyền ngắn, nâng cao tỉ lệ kiểm soát bóng.
Tiểu sử Đội tuyển bóng đá quốc gia Tây Ban Nha  hình ảnh
Các cầu thủ Tây Ban Nha ăn mừng chức vô địch Euro 2008 tại Madrid.

Vòng loại Euro 2008, Tây Ban Nha rơi vào bảng F, đứng đầu bảng với 28 trên 36 điểm có thể giành được. Tại lễ bốc thăm cho vòng chung kết,đội rơi vòng bảng D, có trận đấu mở màn với Nga, chiến thắng thuyết phục với tỉ số 4–1. Trận đấu thứ 2 với Thụy Điển, Tây Ban Nha sớm mở tỉ số ở phút thứ 15 nhờ công của Fernando Torres, bị thủng lưới sớm, Thụy Điển dồn lên tấn công. Phút thứ 34, Zlatan Ibrahimovic san bằng tỉ số 1–1 với pha lừa bóng rồi tung ra cú sút quyết đoán.Thế trận sau đó diễn ra khá bế tắc, vào phút bù giờ cuối cùng, sau pha phản công nhanh, David Villa ghi bàn ấn định tỉ số 2–1, giúp Tây Ban Nha đoạt vé sớm vào tứ kết. Trận đấu còn lại Tây Ban Nha thắng nhà đương kim vô địch Hy Lạp 2–1, giành điểm tối đa sau 3 trận đấu. Đương kim vô địch thế giới lúc đó-Ý là đối thủ của họ trong trận tứ kết, 120 phút kết thúc với tỷ số 0–0, Tây Ban Nha chiến thắng ở loạt luân lưu với tỉ số 4-2. Trong loạt sút luân lưu, trừ lần Guiza không thắng được Buffon ở loạt sút thứ tư, Tây Ban Nha đã thực hiện thành công cả bốn quả luân lưu còn lại bằng những cú sút lạnh lùng quyết đoán của Villa, Santi Cazorla, Senna rồi Fabregas. Nhưng công lớn nhất phải thuộc về thủ môn Iker Casillas. Trong một ngày thi đấu xuất thần, anh đã phán đoán chuẩn xác, đổ người từ chối các pha dứt điểm của Daniele De Rossi ở loạt sút thứ hai rồi Antonio Di Natale ở loạt sút thứ tư. Tây Ban Nha gặp lại Nga tại bán kết và cũng đánh bại họ một lần nữa với chiến thắng 3-0.
Trận chung kết tại Sân vận động Ernst Happel, Viên. Tây Ban Nha đánh bại Đức 1-0 với bàn thắng duy nhất của Fernando Torres ở phút thứ 33. Đây là danh hiệu lớn đầu tiên của Tây Ban Nha kể từ năm 1964.Tây Ban Nha cũng là đội ghi được nhiều bàn nhất với 12 bàn thắng, David Villa giành danh hiệu vua phá lưới, Xavi được bầu chọn là cầu thủ hay nhất giải, và có tới chín cầu thủ của Tây Ban Nha được chọn vào đội hình tiêu biểu của giải.

2.8 Confederations Cup 2009

Luis Aragonés đã quyết định ra đi trong vinh quang sau khi giành chức vô địch Euro 2008, người lên thay là Vicente del Bosque.
Năm 2008,David Villa ghi được 16 bàn/15 trận, phá vỡ kỷ lục của Raúl. Ngày 11 tháng 2 năm 2009, anh tiếp tục lập kỷ lục với bàn thắng vào lưới Đội tuyển Anh, trở thành cầu thủ Tây Ban Nha đầu tiên ghi bàn trong sáu trận liên tiếp.
Tây Ban Nha thắng cả ba trận vòng bảng của Confed Cup 2009. Trận thắng New Zealand 5-0, Torres cũng lập kỷ lục khi lập cú hat-trick nhanh nhất lịch sử. Hai trận đấu còn lại, Tây Ban Nha thắng Iraq 1-0 và thắng Nam Phi 2-0.
Ngày 24 tháng 6, kỉ lục bất bại 35 trận liên tiếp của Tây Ban Nha bị phá vỡ khi họ để thua Mỹ 2-0 ở bán kết. Tây Ban Nha đánh bại Nam Phi 3-2 sau hiệp phụ tại trận tranh giải ba.

2.9 World Cup 2010

Chân dung Đội tuyển bóng đá quốc gia Tây Ban Nha hình ảnh 2
Tình huống đá phạt góc của Tây Ban Nha trong trận đấu với Bồ Đào Nha tại vòng knock-out World Cup 2010.

Tại World Cup 2010, Tây Ban Nha nằm ở bảng H cùng với Thụy Sĩ, Honduras và Chile. Tây Ban Nha thua 1-0 ở trận mở màn với Thụy Sĩ. Ở trận đấu thứ hai, họ đánh bại Honduras với hai bàn thắng của David Villa. Trận đấu cuối cùng của vòng bảng, vào ngày 25/6 với Chile kết thúc với chiến thắng 2-1.Tây Ban Nha giành quyền vào vòng knock-out, thắng Bồ Đào Nha 1-0, tứ kết họ tiếp tục thắng Paraguay 1-0 để giành quyền vào bán kết.
Tây Ban Nha lần đầu tiên vào đến một trận Chung kết World Cup từ năm 1950 khi đánh bại Đức 1-0 ở bán kết với bàn thắng duy nhất tới từ cú đánh đầu của Carles Puyol.
Trận chung kết với Hà Lan diễn ra không bàn thắng trong suốt 90 phút, buộc hai đội phải bước vào hiệp phụ. Andrés Iniesta ghi bàn thắng duy nhất của trận đấu từ đường kiến tạo của Cesc Fàbregas ở phút thứ 116 tại hiệp phụ thứ 2. Qua đó, đội bóng đã giành chức vô địch World Cup lần đầu tiên.
Tây Ban Nha cũng giành được giải thưởng Fair play của FIFA ngoài ra một số cầu thủ trong đội hình cũng có danh hiệu. Thủ môn Iker Casillas giành danh hiệu Găng tay vàng, David Villa giành Quả bóng đồng và chiếc giày bạc.
Đội tuyển bóng đá quốc gia Tây Ban Nha hình ảnh 2
Tây Ban Nha giành chức vô địch World Cup 2010 ở Nam Phi.


2.10 Đường tới vinh quang Euro 2012: Nhà vô địch châu Âu lần thứ 3

Đội tuyển bóng đá quốc gia Tây Ban Nha hình ảnh 4
Các cầu thủ Tây Ban Nha sau khi vô địch Euro 2012.

Vòng loại Euro 2012, Tây Ban Nha nằm ở bảng I với tỉ lệ chiến thắng 100%. Họ đánh bại CH Séc, Scotland, Litva và Liechtenstein để tiến vào vòng chung kết.
Đội tuyển bóng đá quốc gia Tây Ban Nha hình ảnh 5
Đội trưởng Iker Casillas ăn mừng chức vô địch Euro 2012

VCK Tây Ban Nha nằm ở bảng C, cùng với Ý, Croatia và Cộng hòa Ireland. Trận mở màn với Ý vào ngày 10/6/2012, Ý vượt lên dẫn trước ở phút thứ 61, sau tình huống tấn công chớp nhoáng, Pirlo tung ra đường chuyền chính xác, tiền đạo vào thay người Antonio Di Natale dứt điểm hiểm hóc mở tỉ số của trận đấu,những phút sau đó Tây Ban Nha tìm lại được thế trận, và họ đã có bàn gỡ nhờ công của Cesc Fàbregas.
Trận đấu tiếp theo, với Cộng hòa Ireland vào ngày 14 tháng 6, tiền đạo của Chelsea Fernando Torres lập cú đúp, hai bàn thắng còn lại của David Silva và Cesc Fàbregas giúp Tây Ban Nha đại thắng 4-0. Trận đấu cuối cùng của vòng bảng với Croatia vào ngày 18/6,khó khăn hơn các trận đấu khác, Croatia đã có những cơ hội ghi bàn khá rõ rệt. Khi trận đấu dần đi đến hồi kết, phút thứ 88, Jesús Navas ghi bàn thắng duy nhất của trận đấu, giúp Tây Ban Nha tiến tới tứ kết.
Tứ kết họ đối đầu với Pháp vào ngày 23 tháng 6 năm 2012, Tây Ban Nha mở tỷ số trận đấu, với cú đánh đầu của Xabi Alonso. Họ hoàn tất chiến thắng khi Pedro bị phạm lỗi trong vòng cấm địa, Alonso ghi bàn từ chấm penalty. Giúp Tây Ban Nha thắng 2-0, Xabi Alonso đánh dấu cột mốc 100 trận của anh cho tuyển .
Bán kết, Tây Ban Nha gặp Bồ Đào Nha, đội đã đánh bại Cộng hòa Czech ở tứ kết với bàn thắng muộn của Cristiano Ronaldo. Bồ Đào Nha ép sân ngay từ những phút đầu, tạo ra nhiều cơ hội nhưng không thể chuyển hóa thành bàn thắng. Tây Ban Nha vẫn bình tĩnh phòng ngự buộc trận đấu phải đi vào loạt sút luân lưu. Cao trào được đẩy lên khi Bruno Alves sút hỏng quả penalty thứ 4. Kết quả Tây Ban Nha giành chiến thắng 4-2 trên chấm luân lưu. Đây đã là trận chung kết Euro thứ tư của họ, lần trước vào các năm 1964, 1984 và 2008.
Chung kết Euro 2012, Tây Ban Nha giành chức vô địch khi ghi bốn bàn thắng vào lưới Ý. Hiệp 1, họ nhanh chóng kiểm soát thế trận với hai bàn thắng ở phút thứ 14 do công của David Silva và 41 của Jordi Alba. Hiệp hai, Ý sử dụng lượt thay người cuối cùng của mình, thay Antonio Di Natale bằng Thiago Motta, ngay sau khi vào sân, Motta đã bị chấn thương gân kheo, vì đã hết quyền thay người, Ý chỉ còn thi đấu với 10 cầu thủ. Tây Ban Nha ghi thêm hai bàn thắng trong hiệp 2, nhờ công của Fernando Torres và Juan Mata ở phút thứ 84 và 88, giúp Tây Ban Nha vô địch Euro 2012 lần thứ hai liên tiếp. Đây cũng là danh hiệu thứ 3 liên tiếp của họ sau (Euro 2008 và World Cup 2010). Fernando Torres kết thúc giải với 3 bàn thắng và nhận danh hiệu vua phá lưới.
Tây Ban Nha cũng lập nên một vài kỷ lục sau chức vô địch:
  • Tây Ban Nha trở thành đội bóng đầu tiên vô địch ba giải đấu lớn liên tiếp (Euro 2008, World Cup 2010 và Euro 2012)
  • Trận Chung kết Euro 2012 có cách biệt lớn nhất(4-0) nhiều hơn 1 bàn so với trận chung kết năm 1972 (Tây Đức 3-0 Liên Xô)
  • Tây Ban Nha trở thành đội bóng thành công nhất lịch sử Euro, cùng với đội tuyển Đức (ba danh hiệu vô địch)
  • Tây Ban Nha trở thành đội có hiệu số bàn thắng lớn nhất lịch sử Euro, 12-1.

Đội tuyển bóng đá quốc gia Tây Ban Nha hình ảnh 6
Các cầu thủ Tây Ban Nha ăn mừng chức vô địch Euro 2012


2.11 Confederations Cup 2013

Tây Ban Nha bắt đầu Confed Cup 2013 bằng trận thắng 2-1 trước Uruguay, trận đấu mà Tây Ban Nha kiểm soát hoàn toàn thế trận, tung ra 9 cú sút trúng đích, trong khi Uruguay chỉ có 1 và cũng là cú sút mang lại bàn thắng của Luis Suárez. Trận đấu thứ hai của vòng bảng với Tahiti, Tây Ban Nha đã phá kỷ lục về trận thắng đậm nhất của FIFA, 10-0, với cú poker của Fernando Torres và hat-trick của David Villa. Trận đấu cuối cùng họ thắng Nigeria 3-0, hoàn tất vòng bảng với ba trận toàn thắng.
Trong trận bán kết với Đội tuyển Ý, hòa 0-0 trong cả thời gian đá chính và hiệp phụ, Tây Ban Nha đã thắng 7-6 trên chấm penalty khi Jesús Navas thực hiện thành công còn Bonucci đá hỏng, giúp Tây Ban Nha tiến tới trận chung kết Confed Cup đầu tiên, nhưng lại để thua Brazil 3-0. Họ được an ủi với danh hiệu chiếc giày vàng cho Fernando Torres.

2.12 World Cup 2014

Tại giải đấu này, với tư cách đương kim vô địch, Tây Ban Nha được đánh giá là một trong những ứng cử viên của chức vô địch. Họ được bốc thăm vào một bảng đấu được đánh giá không khó khăn gồm Hà Lan, Chile và Úc. Trận đấu đầu tiên của họ tái hiện trận chung kết World Cup 2010. Tây Ban Nha dẫn trước nhờ cú phạt đền thành công của Xabi Alonso, nhưng Hà Lan mới chứng tỏ họ là đội mạnh hơn. Tây Ban Nha mất điều khiển trận đấu và thất bại với tỉ số bất ngờ 1-5. Trận tiếp theo gặp Chile để duy trì hi vọng nhưng Tây Ban Nha tiếp tục thua 0-2. Với hai trận thất bại, Tây Ban Nha trở thành một trong những đội đầu tiên bị loại khỏi giải này và gia nhập danh sách những nhà đương kim vô địch bị loại ở vòng bảng cùng với Brasil năm 1966, Pháp năm 2002 và Ý năm 2010. Ở trận đấu cuối cùng, Tây Ban Nha thắng Úc với tỉ số 3-0 để kết thúc giải ở vị trí thứ ba bảng đấu.

2.13 Euro 2016

Tây Ban Nha đến với Euro 2016 với mục tiêu là để bảo vệ thành công ngôi vô địch. Ở giải đấu này, Tây Ban Nha nằm cùng bảng với các đội Thổ Nhĩ Kỳ, Cộng hòa Séc và Croatia; kết thúc vòng bảng, Tây Ban Nha xếp thứ hai sau Croatia, lọt vào vòng 16 đội nhưng thất bại chung cuộc trước Ý. Sau Euro 2016, huấn luyện viên Vicente del Bosque giã từ sự nghiệp huấn luyện.

2.14 World Cup 2018

Tây Ban Nha mở màn World Cup 2018 với trận hòa 3-3 trước Bồ Đào Nha, đây là trận đấu TBN có 3 bàn thắng của Diego Costa và Nacho Fernández còn BĐN là hattrick của Cristiano Ronaldo. Trận đấu thứ hai, Tây Ban Nha dành chiến thắng 1-0 trước Iran với bàn thắng của Diego Costa. Lượt trận thứ 3, TBN hòa 2-2 Maroc bằng các bàn thắng của Isco, Iago Aspas để có ngôi đầu bảng. Bước vào vòng 16 đội, Tây Ban Nha gặp chủ nhà Nga, trận đấu mở màn bằng bàn phản lưới nhà của lão tướng Sergei Ignashevich bên phía Nga, phút 41 trận đấu cầu thủ Gerard Piqué để bóng chạm tay vô duyên trong vòng cấm và Artem Dzyuba chớp lấy cơ hội để gỡ hòa. Hai đội kéo nhau vào penalty, tại đây Tây Ban Nha để thủ thành Igor Akinfeev cản phá 2 quả pen và thua với tỉ số 4-3 trên loạt đấu súng. Fernando Hierro cùng các học trò dừng bước đáng tiéc nuối.

3. Phong cách thi đấu


Tiqui-Taca là lối chơi sử dụng các đường chuyền ngắn nhằm nâng cao tỉ lệ kiểm soát bóng. Sơ đồ chiến thuật lý tưởng cho Tiqui-Taca là 4-3-3, hay đôi khi có biến thể là 4-1-2-3 và 3-4-3. Bên cạnh đó, đi kèm phải là lối tấn công phối hợp nhóm và phòng ngự khu vực đạt độ ăn ý cao.
Tiqui-Taca là chuyền và chạy. Bóng được chuyền sệt, và chuyền liên tục từ cầu thủ này sang cầu thủ khác. Các cầu thủ không có bóng phải linh động di chuyển để đón bóng. Nhưng vì chỉ tăng tốc và di chuyển trong phạm vi ngắn nên cầu thủ mất sức không nhiều; ngược lại, đội đối phương nếu không thích nghi sẽ bị mất sức do đeo bám và dễ bị rối loạn đội hình.
Barcelona và Tây Ban Nha đã gây dựng một tiqui-taca gần như hoàn hảo và nó đang ngày càng phổ biến trên toàn thế giới. Tất cả các đội trẻ của Barcelona hiện giờ đều phải học đá và vận hành chiến thuật theo kiểu tiqui-taca.

4. Logo và trang phục thi đấu


Logo chính thức của Đội tuyển Tây Ban Nha là hình Quốc huy với phía trên là số 1909 tương ứng với năm thành lập Liên đoàn, phía dưới là một dải băng in 4 chữ "RFEF" là viết tắt của Real Federación Española de Fútbol ("Liên đoàn Bóng đá Hoàng gia Tây Ban Nha" trong tiếng Tây Ban Nha) và một quả bóng ở giữa. Tại các kỳ World Cup, một ngôi sao vàng sẽ được in lên trên cùng, tượng trung cho một lần vô địch.
Trang phục thi đấu truyền thống của Đội tuyển Tây Ban Nha là áo màu đỏ, quần xanh đậm hoặc đen, tất đỏ hoặc đen hay xanh đậm. Trang phục thi đấu phụ hiện tại là màu áo trắng với hoa văn màu đỏ hoặc vàng, quần trắng và tất trắng. Đội cũng từng sử dụng màu áo thi đấu phụ là màu đen hay xanh da trời.
Tiểu sử Đội tuyển bóng đá quốc gia Tây Ban Nha  hình ảnh

Chân dung Đội tuyển bóng đá quốc gia Tây Ban Nha hình ảnh gốc 2

4.1 Tài trợ trang phục

Nhà tài trợ

Quốc gia

Thời gian

Không rõ

Không rõ

1920-1981

Adidas

Đức

1981-1983

Le Coq Sportif

Pháp

1984-1992

Adidas

Đức

1992-nay

5. Danh hiệu

Vô địch thế giới: 1

  • Vô địch: 2010
  • Hạng tư: 1950

Cúp Liên đoàn các châu lục: 0

  • Á quân: 2013
  • Hạng ba: 2009

Vô địch châu Âu: 3

  • Vô địch: 1964; 2008; 2012
  • Á quân: 1984

Bóng đá nam tại Olympic:

  • 1992
  • 1920; 2000

6.Thành tích quốc tế

6.1 Giải vô địch bóng đá thế giới

Năm

Chủ nhà

Kết quả

St

T

H

B

Bt

Bb

1930

Uruguay

Không tham dự

1934

ý

Tứ kết

3

1

1

1

4

3

1938

Pháp

Không tham dự vì nội chiến

1950

Brasil

Hạng tư

6

3

1

2

10

12

1954

Thụy Sĩ

Không vượt qua vòng loại

1958

Thụy Điển

1962

Chile

Vòng 1

3

1

0

2

2

3

1966

Anh

Vòng 1

3

1

0

2

4

5

1970

México

Không vượt qua vòng loại

1974

Đức

1978

Argentina

Vòng 1

3

1

1

1

2

2

1982

Tây Ban Nha

Vòng 2

5

1

2

2

4

5

1986

México

Tứ kết

5

3

1

1

11

4

1990

Ý

Vòng 2

4

2

1

1

6

4

1996

Hoa Kỳ

Tứ kết

5

2

2

1

10

6

1998

Pháp

Vòng 1

3

1

1

1

8

4

2002

Hàn Quốc Nhật Bản

Tứ kết

5

3

2

0

10

5

2006

Đức

Vòng 2

4

3

0

1

9

4

2010

Cộng hòa Nam Phi

Vô địch

7

6

0

1

8

2

2014

Brasil

Vòng 1

3

1

0

2

4

7

2018

Nga

Vòng 2

4

1

3

0

7

6

2022

Qatar

Chưa xác định

2026

Canada/ México/ Hoa Kỳ

Tổng cộng

15/21
1 lần: Vô địch

63

30

15

18

99

72

6.2 Giải vô địch bóng đá châu Âu

Năm

Chủ nhà

Kết quả

St

T

H

B

Bt

Bb

1960

Pháp

Bỏ cuộc ở vòng loại

1964

Tây Ban Nha

Vô địch

2

2

0

0

4

2

1968

Ý

Không vượt qua vòng loại

1972

Bỉ

1976

Nam Tư

1980

Ý

Vòng 1

3

0

1

2

2

4

1984

Pháp

Á quân

5

1

3

1

4

5

1988

Đức

Vòng 1

3

1

0

2

3

5

1992

Thụy Điển

Không vượt qua vòng loại

1996

Anh

Tứ kết

4

1

3

0

4

3

2000

Bỉ Hà Lan

Tứ kết

4

2

0

2

7

7

2004

Bồ Đào Nha

Vòng 1

3

1

1

1

2

2

2008

Áo Thụy Sĩ

Vô địch

6

5

1

0

12

3

2012

Ba Lan Ukraina

Vô địch

6

4

2

0

12

1

2016

Pháp

Vòng 2

4

2

0

2

5

4

2020

Liên minh châu Âu

Vượt qua vòng loại

2024

Chưa xác định

Tổng cộng

10/15 3 lần: Vô địch

40

19

11

10

55

36

6.3 Cúp Liên đoàn các châu lục

Năm

Chủi nhà

Kết quả

St

T

H

B

Bt

Bb

1992

Ả Rập Xê Út

Không giành quyền tham dự

1995

Ả Rập Xê Út

1997

Ả Rập Xê Út

1999

México

2001

Hàn Quốc, Nhật Bản

2003

Pháp

2005

Đức

2009

Cộng hòa Nam Phi

Hạng ba

5

4

0

1

11

4

2013

Brasil

Á quân

5

3

1

1

15

4

2017

Nga

Không giành quyền tham dự

Tổng cộng

2/10
1 lần: Á quân

10

7

1

2

26

8

7. Kỷ lục

7.1 Đội bóng

Số trận bất bại liên tiếp

  • 35 trận (2007-2009) (Bằng với  Brasil từ 1993-1996)
Số trận thắng liên tiếp(bao gồm cả giao hữu)
  • 15 trận (2008-2009)
Số trận bất bại liên tiếp ở các giải đấu chính thức của FIFA
  • 28 trận (2010-2013)
Số trận thắng nhiều nhất bởi 1 huấn luyện viên nước ngoài
  • 13 trận - Vicente del Bosque
Số điểm cao nhất ở vòng loại World Cup
  • 30/30 điểm World Cup 2010,vòng loại bảng 5
Đội vô địch World Cup để thủng lưới ít nhất
  • 2 bàn - World Cup 2010 (Bằng với  Pháp, 1998 và  Ý, 2006)


7.2 Cầu thủ

Số trận khoác áo nhiều nhất
  • 168- Sergio Ramos
Số bàn thắng nhiều nhất
  • 59 - David Villa
Số bàn thắng ghi được nhiều nhất trong 1 mùa giải
  • 13 - David Villa (2008-2009)
Số hattrick ghi được nhiều nhất
  • 3 - Fernando Torres và David Villa
Số trận ghi bàn liên tiếp
  • 6 - David Villa
Số bàn thắng ghi được nhiều nhất ở World Cup
  • 8 - David Villa
Số bàn thắng ghi được nhiều nhất ở một kỳ World Cup
  • 5 - Emilio Butragueño(1986) & David Villa(2010)
Số trận ghi bàn liên tiếp ở World Cup
  • 4 - David Villa(2010)
Số bàn thắng ghi được nhiều nhất ở Euro
  • 5 - Fernando Torres
Số bàn thắng ghi được nhiều nhất ở một kỳ Euro
  • 4 - David Villa
Số bàn thắng ghi được nhiều nhất ở Confed Cup
  • 8 - Fernando Torres
Số bàn thắng ghi được nhiều nhất ở một kỳ Confed Cup
  • 5 - Fernando Torres

8. Thống kê

8.1 Danh sách cầu thủ ghi bàn cho đội tuyển nhiều nhất

Đội tuyển bóng đá quốc gia Tây Ban Nha hình ảnh 7
David Villa là cầu thủ ghi bàn cho đội tuyển nhiều nhất với 59 bàn.


Tính đến ngày 18 tháng 11 năm 2019:

#

Cầu thủ

Thời gian khoác áo

Bàn thắng

Số trận

Hiệu suất

1

David Villa

2005–2014

59

98

0.61

2

Raúl González

1996–2006

44

102

0.43

3

Fernando Torres

2003–2014

38

110

0.35

4

David Silva

2006–2018

35

125

0.25

5

Fernando Hierro

1989–2002

29

89

0.33

6

Fernando Morientes

1998–2007

27

47

0.57

7

Emilio Butragueño

1984–1992

26

69

0.38

8

Alfredo Di Stéfano

1957–1961

23

31

0.74

9

Julio Salinas

1986–1996

22

56

0.41

10

Míchel

1985–1992

21

66

0.32

Sergio Ramos

2005–

21

170

0.09

8.2 Danh sách cầu thủ khoác áo đội tuyển nhiều nhất

Sergio Ramos la cau thu khoac ao doi tuyen quoc gia nhieu nhat voi 170 tran
Sergio Ramos là cầu thủ khoác áo đội tuyển quốc gia nhiều nhất với 170 trận


Tính đến ngày 18 tháng 11 năm 2019:

#

Cầu thủ

Thời gian khoác áo

Số trận

Bàn thắng

1

Sergio Ramos

2005–

170

21

2

Iker Casillas

2000–2016

167

0

3

Xavi Hernández

2000–2014

133

12

4

Andrés Iniesta

2006–2018

131

14

5

Andoni Zubizarreta

1985–1998

126

0

6

David Silva

2006–2018

125

35

7

Sergio Busquets

2009–

116

2

8

Xabi Alonso

2003–2014

114

16

9

Fernando Torres

2003–2014

110

38

Cesc Fàbregas

2006–2016

110

15

8.3 Số lần ghi bàn trên chấm phạt đền

Tính đến ngày 14 tháng 6 năm 2015, có tất cả năm cầu thủ ghi từ 5 bàn thắng trở lên trên chấm phạt đền cho đội tuyển:

Penalties

Player

9

Fernando Hierro

Míchel

7

David Villa

6

Xabi Alonso

5

Fernando Torres

9. Huấn luyện viên


Năm

Huấn luyện viên

Quốc tịch

1920-1920

Francisco Bru

Tây Ban Nha

1921-1922

Julián Ruete

Tây Ban Nha

1921-1928

José Berraondo

Tây Ban Nha

1921-1927

Castro González

Tây Ban Nha

1922-1923

María Mateos

Tây Ban Nha

1922-1922

Díaz Iraola

Tây Ban Nha

1923-1923

Argüello Brage

Tây Ban Nha

1923-1924

Pedro Parages

Tây Ban Nha

1923-1924

García Cernuda

Tây Ban Nha

1924-1924

Colina Alvarez

Tây Ban Nha

1924-1924

Rosich Rubiera

Tây Ban Nha

1924-1924

Olave Videa

Tây Ban Nha

1925-1925

Gutiérrez Alzaga

Tây Ban Nha

1925-1925

Cabot Montalt

Tây Ban Nha

1926-1927

Montero Román

Tây Ban Nha

1934-1936

García Salazar

Tây Ban Nha

1941-1942

Teus López

Philippines

1945-1945

Jacinto Quincoces

Tây Ban Nha

1946-1946

Casas Pasarín

Tây Ban Nha

1947-1962

Hernández Coronado

Tây Ban Nha

1948-1956

Guillermo Eizaguirre

Tây Ban Nha

1951-1951

Félix Quesada

Tây Ban Nha

1951-1951

Luis Iceta

Tây Ban Nha

1951-1951

Paulino Alcántara

Tây Ban Nha

1952-1952

Ricardo Zamora

Tây Ban Nha

1952-1961

Escartín Morán

Tây Ban Nha

1953-1954

Iribarren Cavanilles

Tây Ban Nha

1955-1955

Luis del Valle

Tây Ban Nha

1955-1955

Touzón Jurjo

Tây Ban Nha

1957-1959

Manuel Meana

Tây Ban Nha

1959-1960

Luis Costa

Tây Ban Nha

1959-1960

Luis Lasplazas

Tây Ban Nha

1959-1960

Ramón Gabilondo

Tây Ban Nha

1962-1966

José Villalonga

Tây Ban Nha

1966-1968

Domingo Balmanya

Tây Ban Nha

1968-1969

Eduardo Toba

Tây Ban Nha

1969-1969

Luis Molowny

Tây Ban Nha

1969-1969

Salvador Artigas

Tây Ban Nha

1969-1969

Miguel Muñoz

Tây Ban Nha

1969-1980

Ladislao Kubala

Tây Ban Nha

1980-1982

José Santamaria

Tây Ban Nha

1982-1988

Miguel Muñoz

Tây Ban Nha

1988-1991

Luis Suárez

Tây Ban Nha

1991-1992

Vicente Miera

Tây Ban Nha

1992-1998

Javier Clemente

Tây Ban Nha

1998-2002

Antonio Camacho

Tây Ban Nha

2002-2004

Iñaki Sáez

Tây Ban Nha

2004-2008

Luis Aragonés

Tây Ban Nha

2008-2016

Vicente del Bosque

Tây Ban Nha

2016-2018

Julen Lopetegui

Tây Ban Nha

2018

Fernando Hierro

Tây Ban Nha

2018-2019

Luis Enrique

Tây Ban Nha

2019

Robert Moreno

Tây Ban Nha

2019-

Luis Enrique

Tây Ban Nha

10. Đội hình hiện tại

Các cầu thủ sau đây đã được gọi vào đội tuyển Tây Ban Nha tham dự các trận đấu tại UEFA Nations League 2020–21 với Đức và Ukraine lần lượt vào ngày 3 và 6 tháng 9 năm 2020 . ​​Số bàn thắng và số bàn thắng chính xác kể từ ngày 18 tháng 11 năm 2019, sau trận đấu với Romania .

Vị trí

Cầu thủ

Ngày sinh

Trận

Bt

Câu lạc bộ

Thủ môn

David de Gea

7/11/1990

41

0

Manchester United

Thủ môn

Kepa Arrizabalaga

3/10/1994

10

0

Chelsea

Thủ môn

Unai Simón

11/6/1997

0

0

Athletic Bilbao

Hậu vệ

Sergio Ramos (đội trưởng)

30/3/1986

170

21

Real Madrid

Hậu vệ

Jesús Navas

21/11/1985

42

5

Sevilla

Hậu vệ

Dani Carvajal

11/1/1992

24

0

Real Madrid

Hậu vệ

José Luis Gayà

25/5/1995

7

1

Valencia

Hậu vệ

Diego Llorente

16/8/1993

5

0

Real Sociedad

Hậu vệ

Pau Torres

16/1/1997

1

1

Villarreal

Hậu vệ

Eric García

9/1/2001

0

0

Manchester City

Hậu vệ

Sergio Reguilón

16/12/1996

0

0

Sevilla

Tiền vệ

Sergio Busquets (đội phó)

16/7/1988

116

2

Barcelona

Tiền vệ

Thiago

11/4/1991

37

2

Bayern Munich

Tiền vệ

Rodri

22/6/1996

11

0

Manchester City

Tiền vệ

Fabián

3/4/1996

6

1

Napoli

Tiền vệ

Dani Olmo

7/5/1998

1

1

RB Leipzig

Tiền vệ

Mikel Merino

22/6/1996

0

0

Real Sociedad

Tiền vệ

Óscar

28/6/1998

0

0

Real Madrid

Tiền đạo

Marco Asensio

21/1/1996

24

1

Real Madrid

Tiền đạo

Rodrigo

6/3/1991

22

8

Valencia

Tiền đạo

Mikel Oyarzabal

21/4/1997

7

2

Real Sociedad

Tiền đạo

Ansu Fati

31/10/2002

0

0

Barcelona

Tiền đạo

Ferran Torres

29/2/2000

0

0

Manchester City

Tiền đạo

Adama Traoré

25/1/1996

0

0

Wolverhampton Wanderers

10.1 Triệu tập gần đây

Vị trí

Cầu thủ

Ngày sinh

Số trận

Bt

Câu lạc bộ

Lần cuối triệu tập

Thủ môn

Pau López

13/12/1994

2

0

Roma

România, 18/11/2019

Hậu vệ

Raúl Albiol

4/9/1985

56

0

Villarreal

România, 18/11/2019

Hậu vệ

Juan Bernat

1/3/1993

11

1

Paris Saint-Germain

România, 18/11/2019

Hậu vệ

Iñigo Martínez

17/5/1991

11

0

Athletic Bilbao

România, 18/11/2019

Hậu vệ

Jordi Alba

21/3/1989

70

8

Barcelona

Quần đảo Faroe, 8/9/2019

Hậu vệ

Mario Hermoso

18/6/1995

5

0

Atlético Madrid

Quần đảo Faroe, 8/9/2019

Hậu vệ

Unai Núñez

30/1/1997

1

0

Athletic Bilbao

Quần đảo Faroe, 8/9/2020

Tiền vệ

Santi Cazorla

13/12/1984

81

15

Al-Sadd

România, 18/11/2019

Tiền vệ

Saúl

21/11/1994

19

3

Atlético Madrid

România, 18/11/2019

Tiền vệ

Pablo Sarabia

11/5/1992

3

1

Paris Saint-Germain

România, 18/11/2019

Tiền vệ

Dani Ceballos

7/8/1996

9

1

Arsenal

Thụy Điển, 15/10/2019

Tiền vệ

Luis Alberto

28/9/1992

1

0

Lazio

Thụy Điển, 15/10/2020

Tiền vệ

Suso

19/11/1993

5

0

Sevilla

Quần đảo Faroe, 8/9/2019

Tiền vệ

Dani Parejo

16/4/1989

4

0

Villarreal

Quần đảo Faroe, 8/9/2019

Tiền đạo

Álvaro Morata

23/10/1992

33

17

Atlético Madrid

România, 18/11/2019

Tiền đạo

Paco Alcácer

30/8/1993

19

12

Villarreal

România, 18/11/2019

Tiền đạo

Gerard

7/4/1992

3

3

Villarreal

România, 18/11/2019

Tiền đạo

Iago Aspas

1/8/1987

18

6

Celta Vigo

Malta, 15/11/2019

Chú thích:

INJ: Cầu thủ rút lui vì chấn thương

PRE: Danh sách sơ bộ.

RET: Cầu thủ đã giã từ đội tuyển quốc gia

top-arrow
X